|
  |
|
PVLC Mùa Chay Tuần V Thứ 2 |
Bài Đọc
I: Đn 13, 1-9. 15-17. 19-30. 33-62 (Bài dài)
"Đây tôi phải chết, dù tôi không làm điều họ
vu khống cho tôi".
Trích sách Tiên tri Đaniel.
Trong những ngày ấy, có một người đàn ông ở Babylon tên là
Gioakim cưới bà vợ tên là Susanna, con của Helcia, bà rất
xinh đẹp và có ḷng kính sợ Chúa, v́ cha mẹ bà là những
người công chính, đă dạy con cho biết giữ luật Môsê. Lúc đó
Gioakim rất giàu có, ông có một khu vườn gần nhà ông, các
người Do-thái năng lui tới nhà ông, v́ ông là người đáng
kính hơn mọi người khác.
Năm đó, người ta đă đặt lên hai vị thẩm phán trong dân. Chúa
đă phán về những kẻ ấy rằng: "Sự gian ác phát sinh từ
Babylon bởi những vị thẩm phán kỳ lăo, là những người xem ra
như cai quản dân chúng". Các ông năng lui tới nhà ông
Gioakim, nên tất cả những ai kiện tụng, th́ t́m gặp các ông
ở đó. Đến trưa, khi dân chúng trở về nhà, bà Susanna vào đi
bách bộ trong vườn của chồng. Hai vị kỳ lăo thấy bà mỗi ngày
đi bách bộ trong vườn, th́ phải lửa dục mê đắm; hai ông mất
lương tâm, không c̣n muốn đưa mắt nh́n lên trời và không c̣n
muốn nhớ đến sự xét xử công minh.
Hai ông chờ ngày thuận tiện, lúc bà Susanna vào vườn như hôm
trước và hôm trước nữa, bà chỉ dẫn theo hai cô thiếu nữ, bà
muốn tắm trong vườn, v́ trời nóng bức. Lúc bấy giờ ở đó
không có ai, ngoài hai vị kỳ lăo đang ẩn núp và ngắm nh́n
bà. Bà nói với hai cô thiếu nữ rằng: "Hăy mang dầu và thuốc
thơm cho ta, rồi đóng cửa vườn lại để ta tắm".
Khi hai cô thiếu nữ ra khỏi vườn, hai vị kỳ lăo đứng lên,
tiến lại gần bà Susanna và nói: "Ḱa cửa vườn đă đóng hết;
không ai trông thấy ta đâu, chúng tôi say mê bà, bà hăy chấp
nhận lời yêu cầu của chúng tôi và hiến thân cho chúng tôi.
Nếu bà không chấp nhận, chúng tôi sẽ làm chứng nói bà phạm
tội với một thanh niên, và v́ đó, bà đă bảo các cô thiếu nữ
ra khỏi vườn".
Bà Susanna thở dài và nói: "Tôi phải khốn cực tư bề; nếu tôi
hành động như thế, tôi phải chết, và nếu tôi không hành động
như thế, tôi cũng không thoát khỏi tay các ông. Nhưng thà
tôi phải tay các ông mà không làm điều ǵ phạm tội trước mặt
Chúa th́ hơn!" Đoạn bà tri hô lên, nên hai vị kỳ lăo cũng
kêu lên tố cáo bà. Và một trong hai ông chạy ra mở cửa vườn.
Khi người nhà nghe tiếng kêu la trong vườn, liền đổ xô ra
cửa để xem coi việc ǵ đă xảy ra. Khi nghe hai vị kỳ lăo kể
lại, th́ các đầy tớ rất lấy làm hổ thẹn, v́ thiên hạ không
khi nào nghe nói như thế về bà Susanna.
Ngày hôm sau, khi dân chúng tụ họp tại nhà ông Gioakim,
chồng bà Susanna, hai vị kỳ lăo cũng đến, ḷng đầy những ư
nghĩ bất chính để tố cáo bà Susanna cho người ta giết bà.
Hai ông nói với dân chúng: "Các người hăy đi t́m bà Susanna,
con ông Helcia, vợ của ông Gioakim". Người ta liền sai đi
bắt bà, bà đến với cả cha mẹ, con cái và tất cả họ hàng.
Nhưng tất cả họ hàng và mọi kẻ biết rơ bà đều khóc lóc.
Khi hai vị kỳ lăo ra đứng giữa dân chúng, hai ông đặt tay
lên đầu bà. Bà Susanna th́ khóc lóc, ngước mắt lên trời, v́
tâm hồn bà tin tưởng nơi Chúa. Hai vị kỳ lăo nói: "Khi chúng
tôi đi bách bộ một ḿnh trong vườn, bà này đi vào với hai
đứa tớ gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn lại, rồi đi ra. Bấy
giờ một chàng thanh niên đă ẩn núp trong vườn tiến tới gần
bà và phạm tội với bà. Lúc đó chúng tôi núp ở góc vườn, nh́n
thấy tội ác, chúng tôi liền chạy đến bắt quả tang hai người
đang phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng thanh niên, v́
anh ta khoẻ mạnh hơn chúng tôi, nên đă mở cửa tẩu thoát. C̣n
bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn hỏi chàng thanh
niên đó là ai, nhưng bà không muốn nói cho chúng tôi biết.
Đó là điều chúng tôi xin làm chứng". Dân chúng tin lời hai
ông nói, v́ hai ông là bậc kỳ lăo trong dân và là thẩm phán,
nên họ lên án tử h́nh cho bà.
Bấy giờ bà Susanna kêu lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa hằng hữu,
Đấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự trước khi xảy ra, Chúa
biết họ làm chứng gian hại con; và đây con phải chết, dù con
không làm điều ǵ mà họ ác ư vu khống cho con".
Chúa nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, th́ Chúa giục thần
trí một đứa trẻ tên là Đaniel. Trẻ này kêu lớn rằng: "C̣n
tôi, tôi không vấy máu bà này". Mọi người hướng mắt nh́n về
đứa trẻ và nói: "Lời mi nói có ư nghĩa ǵ?" Đứa trẻ ra đứng
giữa mọi người và nói: "Hỡi con cái Israel, các ngươi ngu
muội thế sao, khi chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào,
mà lại lên án một thiếu nữ Israel? Các người hăy xét xử lại,
v́ hai ông đă làm chứng dối hại bà".
Bấy giờ dân chúng vội vă trở lại. Các kỳ lăo nói với Đaniel:
"Này, em hăy ngồi giữa chúng tôi và bảo cho chúng tôi, v́
Thiên Chúa đă cho em danh dự của bậc kỳ lăo". Đaniel liền
nói với họ: "Các người hăy tách biệt hai ông ra, và cho hai
ông đứng xa nhau, rồi tôi xét xử hai vị kỳ lăo cho".
Khi hai ông đứng xa nhau, Đaniel gọi ông thứ nhất đến và
nói: "Hỡi lăo già độc ác, các tội xưa kia ông đă phạm, giờ
đây lại tái phạm, ông đă xét xử bất công, đă lên án kẻ vô
tội và tha cho người có tội, mặc dầu có lời Chúa phán:
"Ngươi chớ giết kẻ vô tội và người công chính". Vậy nếu ông
thấy bà Susanna phạm tội, th́ hăy nói hai người phạm tội
dưới cây ǵ?" Ông ta trả lời: "Dưới cây cḥ". Đaniel liền
nói: "Đúng là ông nói dối. Đây sứ thần Chúa được lệnh phân
thây ông". Đaniel cho ông ta lui ra, và bảo dẫn ông kia đến.
Đaniel nói với ông này rằng: "Hỡi ḍng giống Canaan, chớ
không phải ḍng giống Giuđa, sắc đẹp đă mê hoặc ông, và t́nh
dục đă làm cho tâm hồn ông ra đồi bại. Ông đă cư xử như thế
đối với các thiếu nữ Israel, các cô v́ sợ mà phạm tội với
ông. Nhưng một thiếu nữ Giuđa không chiều theo tội ác của
ông. Vậy bây giờ, ông hăy nói cho tôi biết ông đă bắt được
hai người phạm tội dưới cây ǵ?" Ông ta trả lời: "Dưới cây
sồi". Đaniel liền nói: "Cả ông nữa, ông hoàn toàn nói dối,
cho nên thiên thần Chúa, tay cầm gươm, chờ đợi phân thây
tiêu diệt ông".
Bấy giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa đă
cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Đoạn họ nghiêm trị
hai vị kỳ lăo mà Đaniel đă minh chứng rằng hai ông đă vu
khống, họ đă xử với hai ông như hai ông đă xử độc ác với kẻ
khác. Chiếu theo luật Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày
hôm đó máu người vô tội khỏi đổ oan.
Đó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Đn 13,
41c-62 từ chỗ "họ lên án tử h́nh cho
bà"
Đáp Ca: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Dù bước đi trong
thung lũng tối, con không lo mắc nạn, v́ Chúa ở cùng con (c.
5ab).
Xướng: 1) Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên
đồng cỏ xanh ŕ, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ
nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi
dưỡng. - Đáp.
2) Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ v́ uy
danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong thung lũng tối, con
không lo mắc nạn, v́ Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của
Ngài, đó là điều an ủi ḷng con. - Đáp.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối
phương. Đầu con th́ Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy
tràn chan chứa. - Đáp.
4) Ḷng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong
đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời
gian rất ư lâu dài. - Đáp.
Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2b
Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.
Phúc Âm: Ga 8, 12-20
"Ta là sự sáng thế gian".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: "Ta
là sự sáng thế gian. Ai theo Ta sẽ không đi trong tối tăm,
nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống".
Những người biệt phái nói: "Ông tự làm chứng cho ḿnh, nên
chứng của ông không xác thực".
Chúa Giêsu trả lời: "Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, th́
chứng của Ta cũng xác thực, v́ Ta biết rơ Ta từ đâu tới và
đi về đâu. C̣n các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới,
cũng chẳng biết Ta đi đâu. Các ông đoán xét theo xác thịt;
c̣n Ta, Ta không đoán xét ai. Hoặc nếu Ta có đoán xét, th́
sự đoán xét của Ta cũng xác thực, bởi v́ không phải chỉ có
ḿnh Ta, nhưng c̣n có Cha Ta là Đấng đă sai Ta. Vả lại trong
luật của các ông có ghi: Chứng của hai người th́ xác thực.
Ta tự làm chứng về Ta, và Đấng đă sai Ta, là Chúa Cha, cũng
làm chứng cho Ta nữa".
Họ nói: "Cha của ông đâu?" Chúa Giêsu trả lời: "Các ông
không biết Ta, cũng chẳng biết Cha Ta. Nếu các ông biết Ta
th́ cũng sẽ biết Cha Ta".
Chúa Giêsu nói những lời trên gần nơi để Kho Tiền, khi Người
giảng dạy trong đền thờ. Thế mà không ai bắt Người, v́ chưa
đến giờ Người.
Đó là lời Chúa.

Suy niệm
Sự
Sống chứng thực
Ngày Thứ Hai trong Tuần V Mùa Chay vẫn tiếp tục với bài Phúc Âm
theo Thánh kư Gioan, bài Phúc Âm chất chứa lời Chúa
Giêsu tự làm chứng về Người.
Nếu bài Phúc Âm tuần trước cả dân chúng lẫn thành
phần lănh đạo đều chia rẽ nhau về nguồn gốc của Chúa
Kitô th́ tuần này Người tự ḿnh chính thức làm sáng
tỏ nguồn gốc thần linh của Ngựi. Nếu tuần trước
Người nói Người không tự làm chứng về ḿnh th́ tuần
này Người không thể không tự làm chứng về Người bởi
không ai biết Người bằng chính Người.
Thật vậy, tuần
trước, các bài Phúc Âm nói chung
theo Thánh kư Gioan, cách riêng bài Phúc Âm cho Thứ
Năm của tuần trước ấy, Chúa Giêsu đă không tự chứng
hay chưa tự làm chứng về Người: "Nếu
chính Ta làm chứng về Ḿnh, th́ chứng của Ta sẽ
không xác thực", mà là minh chứng về
ḿnh bằng 3 chứng từ khác nhau liên quan đến bản
thân và nguồn gốc của Người:
1- Chứng từ thần
linh liên quan đến Cha là Đấng đă sai Người: "Có
một Đấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng
Người làm về Ta th́ xác thực";
2- Chứng từ nhân loại liên
quan đến Tiền Hô Gioan Tẩy Giả: "Các
ngươi đă sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đă làm
chứng cho sự thật";
3- Chứng từ Thánh Kinh liên quan đến mạc khải thần
linh: "Các
ngươi tra cứu Sách Thánh, v́ tưởng rằng trong đó các
ngươi sẽ t́m thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh
lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu
đến với Ta để được sống".
Tuần này, ngay ở
bài Phúc Âm Thứ Hai đầu tuần, Chúa
Giêsu bắt đầu chính thức và công khai tự làm chứng
về Người và cho Người, v́ tự Người và
chính Người là "chân lư", là "sự thật"
(Gioan 14:6), một chân lư tỏ ḿnh ra như ánh sáng
không thể nào không soi chiếu, nên ngay ở đầu bài
Phúc Âm hôm nay Người đă ngang nhiên và trịnh
trọng tuyên bố: "với
những người biệt phái rằng: 'Tôi là
sự sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ
không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự
sống".
Tất nhiên, khi Người xưng ḿnh ra như thế, đối
với trần gian th́ có vẻ như Người khoe khoang, ngạo
mạn, nên một gịng điện dương khi
chạm phải cùng một gịng điện dương chắc chắn
không thể nào không tóe
lửa, nghĩa là v́ cho Người tỏ ra khoe khoang ngạo mạn
như thế mà thành phần bản chất vốn khoe khoang ngạo
mạn thính giả của Người bấy giờ là "những
người biệt phái" đă không thể nào
chấp nhận được lời tuyên bố của Người: "Ông
tự làm chứng cho ḿnh, nên chứng của ông không xác
thực".
Tuy nhiên, Chúa Giêsu đă biện minh cho việc Người tự
làm chứng về Người và cho Người là những ǵ hoàn
toàn chân thực và chính xác, qua chính câu Người trả
lời cho thành phần không tin Người và không chấp
nhận lời tuyên bố của Người: "Cho
dầu Ta tự làm chứng về Ta, th́ chứng của Ta cũng xác
thực, v́ Ta biết rơ Ta từ đâu tới và đi về đâu. C̣n
các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng
chẳng biết Ta đi đâu".
Thật vậy, nếu chính Chúa Kitô không biết ḿnh là
ai và từ đâu đến, như con người thuần túy chúng ta,
thành phần thuần nhân cho tới chết cũng chưa hoàn
toàn biết ḿnh, bởi thế vẫn liên tục sa ngă phạm tội
là những ǵ sai lạc, không đúng sự thật về bản thân
họ cũng như không đúng sự thật Thiên Chúa muốn nơi
họ và cho họ, và chính v́ thế họ
chỉ được giải phóng cho đến khi họ nhận biết sự thật
mà thôi (xem Gioan 8:32).
Muốn biết ḿnh thực
sự là ai th́ con người cần phải biết ḿnh "từ đâu
tới" và sẽ "đi đâu", chứ không phải
chỉ biết ḿnh "từ đâu tới" song chẳng biết
ḿnh sẽ "đi đâu" là đủ biết ḿnh một cách
chân thực và chính
xác. Chẳng hạn, theo đức tin của ḿnh, Kitô hữu chúng
ta tin rằng, về nguyên ủy, hay nguồn gốc, "từ đâu
tới" chúng ta được dựng nên từ hư vô, bởi được
Thiên Chúa yêu thương, nhưng
trong cuộc sống, về cùng đích "đi đâu" là nơi
chúng ta sẽ tới và cần phạt đạt tới, chúng ta lại
sống như thể không có đời sau, không có Thiên Chúa, chỉ
luôn t́m kiếm và theo đuổi những ǵ thuộc về hạ giới
hợp với xác thịt của chúng ta hơn là Nước Trời và
thay v́ vĩnh phúc trường sinh bất diệt.
Chúa Giêsu thật sự biết được Người "từ đâu tới"
và sẽ "đi đâu": Người từ Thiên Chúa mà
tới, Đấng đă sai Người tới: "Thày từ Cha mà đến
và đă đến trong thế gian" (Gioan
16:28), và v́ thế nơi Người "đi đâu" không c̣n
chỗ nào khác ngoài chính nơi Cha của Người muốn
Người tới, nghĩa là Người được sai đến để làm theo ư
Cha là Đấng đă sai Người, chứ không phải làm
theo ư của Người, đúng như Người đă tuyên bố
với người Do Thái: "Tôi từ trời xuống không
phải để làm theo ư của ḿnh mà là ư của Đấng đă sai
tôi" (Gioan 6:38).
Mà ư của Cha là nơi
Người phải tới, mà Người phải làm theo và chu
toàn đây là ǵ, chính Người cũng biết rơ ràng và
chắc chắn Người mới có thể làm theo đúng và đáp ứng
thật: "Ư muốn của Đấng đă sai Tôi đó là Tôi
không được làm mất một sự ǵ Ngài đă ban cho Tôi,
trái lại, Tôi phải làm cho nó sống lại trong
ngày sau hết"
(Gioan 6:39).
"Ngày sau hết", trong câu Chúa Giêsu nói đến ở đây, chúng ta
thường hiểu về ngày tận thế, nhưng ở đây có thể
hiểu là chính thời điểm của Người, một thời điểm "viên
trọn" (Galata 4:4), thời điểm
"sau hết" Thiên Chúa đă tỏ ḿnh ra nơi chính
Người là Con của
Ngài theo gịng lịch sử cứu độ của dân Do Thái là
lịch sử mà mạc khải thần linh đă được Thiên Chúa từ từ
tỏ hiện cho đến tột đỉnh nơi Chúa Giêsu Kitô vào thời "sau
hết" như Thánh Phaolô viết ở ngày đầu Thư Do
Thái của thánh nhân (xem Do
Thái 1:1-3).
"Sống lại", cũng trong lời Chúa Giêsu nói ở đây,
là "sống lại" vào "thời điểm
viên trọn" (Galata 4:4) tức là vào "ngày
sau hết", một "sống
lại" trước hết và trên hết về phần hồn của con
người đă bị hư đi theo nguyên tội và từ nguyên tội,
một "sống lại" bởi cuộc Vượt Qua của Người,
khi Người tỏ hết ḿnh ra để bằng cuộc phục sinh của
ḿnh, Người chẳng những chiến thắng tội lỗi và sự
chết mà c̣n thông
ban sự sống và Thánh Linh cho chung nhân loại qua
Giáo Hội của Người mà đầu tiên ở nơi
các tông đồ của Người (xem Gioan 20:21-23).
Về nguồn gốc của Chúa Kitô, tức về xuất xứ của
Người "từ đâu đến", đă trở thành sự kiện then
chốt và đă từng làm cho dân Do Thái nói chung và
thành phần lănh đạo của họ nói riêng chia rẽ hết sức
trầm trọng, như trong bài Phúc Âm Thứ Bảy tuần vừa rồi
cho thấy, th́ về nơi "đi đâu" của
Người hay về việc Người "đi đâu"
lại càng là một mầu nhiệm vô cùng bí ẩn, họ làm
sao biết được và cũng không thể nào biết được.
Cho dù Người có nói ra chăng nữa, như Người đă từng
tiết lộ cho các môn đệ thân tín của Người ba lần, mà
các vị vẫn "không
thể nào đến được",
hiểu được, đúng như Người đă quả quyết với các vị
như đă quả quyết với dân Do Thái (xem Gioan 13:33),
chứ chưa nói ǵ đến chuyện các vị có thể đến được
nơi Người "đi đâu",
cho đến khi Người đi dọn chỗ cho các vị trở về đón
các vị đi với Người (xem Gioan 14:2-3).
Đó là lư do Chúa
Giêsu, trong bài Phúc Âm hôm nay đă cho thành phần
thính giả của Người biết lư do tại sao họ không thể
chấp nhận chứng từ của Người về chính bản thân Người là Đấng đă
biết rơ về ḿnh, "từ đâu đến" và sẽ
"đi đâu", chỉ v́:
"Các
ông đoán xét theo xác thịt; c̣n Ta, Ta không đoán
xét ai. Hoặc nếu Ta có đoán xét, th́ sự đoán xét của
Ta cũng xác thực, bởi v́ không phải chỉ có ḿnh Ta,
nhưng c̣n có Cha Ta là Đấng đă sai Ta. Vả lại trong
luật của các ông có ghi: Chứng của hai người th́ xác
thực. Ta tự làm chứng về Ta, và Đấng đă sai Ta, là
Chúa Cha, cũng làm chứng cho Ta nữa".
Trong câu này, Chúa Giêsu chẳng những cho thính
giả của Người bấy giờ thấy được lư do tại sao họ
không thể chấp nhận chứng từ của Người là v́ họ "xét đoán
theo xác thịt" chứ không theo chân lư, mà c̣n
cho họ thấy rằng chứng từ của Người là đúng, v́ theo
nguyên tắc th́ chứng của hai người là chứng thật, và
v́ thế chứng từ của Người là xác thực
bởi cả có 2 người làm chứng là chính bản thân Người
lẫn Cha của Người là Đấng đă sai Người làm chứng
cùng một điều về Người.
Và chính v́ Chúa
Giêsu nại đến Cha của Người là một trong hai người
làm chứng về Người nên Người đă được thành phần
thính giả của Người thách thức đặt vấn đề: "Cha
của ông đâu?", Đấng mà Người đến "để tỏ
Cha ra" (Gioan 1:18) qua bản thân Người, đến độ
"ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9), nên
Người đă cho thành phần thính giả chất vấn Người về
Cha của Người rằng: "Các
ông không biết Ta, cũng chẳng biết Cha Ta. Nếu các
ông biết Ta th́ cũng sẽ biết Cha Ta".
Bài Đọc 1 hôm nay được trích từ Sách Tiên
Tri Đaniên về câu chuyện của bà Suzanna công chính
nhưng bị mang đi ném đá chết bởi bà bị kết án theo
luật căn cứ vào chứng từ của 2 người chứng, một
chứng từ gian dối nhưng hoàn
toàn lấn át lời tự chứng của người phụ nữ nạn
nhân đáng thương này, chẳng khác nào như Chúa Giêsu
tự làm chứng cho ḿnh mà chẳng ai tin vào Người vậy.
Trước hết là lời
chứng của hai nhân chứng, tức là của hai lăo già đang
giữ vai tṛ làm thẩm phán trong dân thường sử dụng
ngôi nhà rộng răi sang trọng của vợ chồng bà để xử
các vụ kiện cáo của dân chúng, đă âm mưu chiếm hưởng
thân xác kiều mỹ hấp dẫn của bà khi bà đang tắm
kín đáo một ḿnh trong vườn nhà của bà vào một buổi
trưa nóng bức:
"Khi
chúng tôi đi bách bộ một ḿnh trong vườn, bà này đi
vào với hai đứa tớ gái. Bà bảo hai đứa đóng cửa vườn
lại, rồi đi ra. Bấy giờ một chàng thanh niên đă ẩn
núp trong vườn tiến tới gần bà và phạm tội với bà.
Lúc đó chúng tôi núp ở góc vườn, nh́n thấy tội ác,
chúng tôi liền chạy đến bắt quả tang hai người đang
phạm tội. Chúng tôi không bắt được chàng thanh niên,
v́ anh ta khoẻ mạnh hơn chúng tôi, nên đă mở cửa tẩu
thoát. C̣n bà này chúng tôi bắt được, chúng tôi gạn
hỏi chàng thanh niên đó là ai, nhưng bà không muốn
nói cho chúng tôi biết. Đó là điều chúng tôi xin làm
chứng".
Sau nữa là lời chứng của chính đương sự bị tố cáo là
bà Suzanna, như Bài Đọc 1 cho biết, "bà rất
xinh đẹp và có ḷng kính sợ Chúa",
và khi bị hai tên "thẩm phán kỳ lăo" ở
Babylon "phải
lửa dục mê đắm... mất lương tâm"
ŕnh ṃ bà và bất ngờ
tấn công t́nh dục bà, nhưng bà đă
cương quyết chống trả bất chấp số mệnh ra sao th́ ra:
"Bà
Susanna thở dài và nói: 'Tôi
phải khốn cực tư bề; nếu tôi hành động như thế, tôi
phải chết, và nếu tôi không hành động như thế, tôi
cũng không thoát khỏi tay các ông. Nhưng thà tôi
phải tay các ông mà không làm điều ǵ phạm tội trước
mặt Chúa th́ hơn!' Đoạn bà tri hô lên, nên hai vị kỳ
lăo cũng kêu lên tố cáo bà".
Thế nhưng, chỉ cần căn cứ vào chứng của hai người,
mà hai chứng nhân này lại là hai vị thẩm phán đáng
kính có tuổi và có thế trong dân th́ người vợ thủy
chung với chồng và kính sợ Thiên Chúa chỉ có
chết, đến độ dân chúng mù quáng cả tin cả nể chẳng
cần nghe bà thanh minh ǵ cả đă "lên
án tử h́nh cho bà".
Khi bị lên án tử rồi,
người đàn bà đáng kính đáng phục này chỉ c̣n biết
kêu đến trời và phó thác mọi sự trong tay Ngài
là Đấng bà kính sợ và tin tưởng, Đấng bà đă không sợ
chết mà xúc phạm đến Ngài, nhất định không
chịu chiều theo ư muốn nhục dục của hai lăo già
gian ác tồi bại, Đấng duy nhất có thể thấy được tất
cả sự thật: "Lạy
Chúa hằng hữu, Đấng thấu biết mọi bí ẩn và mọi sự
trước khi xảy ra, Chúa biết họ làm chứng gian hại
con; và đây con phải chết, dù con không làm điều ǵ
mà họ ác ư vu khống cho con".
Nếu bên đối phương tấn công bà có hai nhân chứng,
và như Chúa Giêsu trong
bài Phúc Âm hôm nay cũng có 2 nhân chứng
về Người là chính bản thân Người và Cha của Người,
th́ người đàn bà nạn nhân vô tội bị oan ức này cũng
có đủ 2 nhân chứng, đó là chính bản thân bà, v́ bà
biết bà hơn tất cả mọi người khác biết về bà, một sự
thật về bà đúng như Thiên
Chúa là nhân chứng thứ hai biết về bà. Bởi
thế, Thiên Chúa cũng đă nhúng tay vào làm chứng về
bà, như Bài Đọc 1 cho biết tiếp như sau:
"Chúa
nhậm lời bà. Khi họ dẫn bà đi xử tử, th́ Chúa giục
thần trí một đứa trẻ tên là Đaniel. Trẻ này kêu lớn
rằng: 'C̣n tôi, tôi không vấy máu bà này'. Mọi người
hướng mắt nh́n về đứa trẻ và nói: 'Lời mi nói có ư
nghĩa ǵ?' Đứa trẻ ra đứng giữa mọi người và nói:
'Hỡi con cái Israel, các ngươi ngu muội thế sao, khi
chưa xét xử và chưa biết sự thật thế nào, mà lại lên
án một thiếu nữ Israel? Các người hăy xét xử lại, v́
hai ông đă làm chứng dối hại bà'".
Phải, Thiên Chúa đă sử
dụng một trang thiếu niên trẻ trung đứng ra xét sử
hai lăo già thẩm phán trong dân, để chẳng
những chứng tỏ cho dân của Ngài thấy
rằng: 1- ai tin vào Ngài sẽ được Ngài chở che
bênh đỡ, và 2- "bóng tối không thể
nào át được ánh sáng"
(Gioan 1:5):
"Bấy
giờ tất cả dân chúng hô lớn tiếng và chúc tụng Chúa
đă cứu thoát những kẻ trông cậy vào Chúa. Đoạn họ
nghiêm trị hai vị kỳ lăo mà Đaniel đă minh chứng
rằng hai ông đă vu khống, họ đă xử với hai ông như
hai ông đă xử độc ác với kẻ khác. Chiếu theo luật
Môsê, họ lên án xử tử hai ông, và ngày hôm đó máu
người vô tội khỏi đổ oan".
Không biết khi được Thiên Chúa minh oan cho, bà
Suzanna đă cảm thấy ra sao, nhưng chắc chắn tâm can
của bà đă trải qua một cảm nghiệm thần linh rất sâu
xa lạ lùng: "Chúa
dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối
phương", và từ đó tấm ḷng tri ân cảm tạ của bà đă trào dâng
lên những tâm t́nh càng tin tưởng cậy trông vào
Thiên Chúa hơn: "dù
bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn,
v́ Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó
là điều an ủi ḷng con", đúng như trong Bài Đáp Ca hôm
nay:
1) Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên
đồng cỏ xanh ŕ, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn
nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn
tôi, Người lo bồi dưỡng.
2) Ngài dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở
dĩ v́ uy danh Người. (Lạy Chúa), dù bước đi trong
thung lũng tối, con không lo mắc nạn, v́ Chúa ở cùng
con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi
ḷng con.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những
kẻ đối phương. Đầu con th́ Chúa xức dầu thơm, chén
rượu con đầy tràn chan chứa.
4) Ḷng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi
ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định
cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu
có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại
bài chia sẻ trên
MC.TuanV-2bc.mp3
|
|